Màu của đất kể khá nhiều về nguồn gốc của nó: đất nâu mịn ven sông thường là phù sa, đất đỏ vàng trên đồi giàu sắt, nước ruộng có váng đỏ gạch và vị chua là dấu hiệu đất phèn, còn đất xám trắng ven biển thường mặn hoặc pha nhiều cát. Màu chỉ là gợi ý ban đầu, muốn chắc chắn vẫn cần đo đạc.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Hôm nay mình làm một việc rất đời thường: cúi xuống nhìn đất. Người làm nông lâu năm có thể đoán được ruộng tốt hay xấu chỉ bằng một nắm đất, và cái nghề đọc đất ấy có những nguyên lý mà ai cũng học được.
Vì sao đất lại có nhiều màu khác nhau?
Màu đất đến chủ yếu từ ba thứ: chất hữu cơ, sắt và lượng nước trong đất. Chất hữu cơ từ lá mục, rễ cây làm đất sẫm màu, nâu đen. Sắt khi bị oxy hoá trong điều kiện thoáng khí cho màu đỏ hoặc vàng, giống như gỉ sắt.
Khi đất bị ngập nước lâu ngày, thiếu không khí, sắt chuyển sang dạng khác và đất ngả màu xám xanh. Đào xuống ruộng lúa ngập nước, bạn hay gặp lớp đất xám như vậy, có khi kèm mùi hơi tanh.
Còn khi các chất màu bị rửa trôi gần hết, đất chỉ còn lại cát và bột, màu sẽ nhạt đi, xám bạc. Màu nhạt thường là dấu hiệu đất nghèo.
Hiểu ba thứ này, bạn đọc được phần lớn những gì mắt thấy trên đồng ruộng.
Đất phù sa và đất đỏ vàng đồi núi khác nhau ra sao?
Đất phù sa là đất do sông bồi, phân bố ở các đồng bằng và ven sông. Nó thường có màu nâu tươi hoặc nâu xám, hạt mịn, sờ vào thấy mát và hơi dẻo khi ẩm. Phù sa mới bồi ngoài đê thường tốt nhất, phù sa trong đê lâu năm không được bồi thì nghèo dần.
Đất đỏ vàng, hay đất feralit, là nhóm đất phổ biến nhất trên đồi núi Việt Nam. Nó hình thành khi đá mẹ bị phong hoá mạnh trong khí hậu nóng ẩm, sắt nhôm tích tụ lại. Trên đá bazan, đất đỏ thẫm và dày. Trên các loại đá khác như đá phiến, đá granit, đất thường vàng hơn, nhiều sạn cát hơn.
Một điều người ta hay quên: màu vàng của đất đồi thường đi kèm với việc đất ẩm hơn hoặc bị rửa trôi nhiều hơn màu đỏ. Cùng một quả đồi, chân đồi và đỉnh đồi có thể khác màu.
Nếu bạn ở trung du phía Bắc, cứ để ý những quả đồi trồng chè hay keo, mặt đất đỏ vàng loang lổ, đó chính là đất feralit điển hình.
Đất phèn nhận biết thế nào và vì sao nó khó trồng?
Đất phèn là nỗi lo lớn ở những vùng trũng như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau. Nó hình thành ở những nơi từng là đầm lầy ven biển, nơi rễ cây và bùn lắng chứa một khoáng chất có lưu huỳnh.
Khi khoáng chất này còn nằm yên dưới nước thì vô hại. Nhưng khi bị phơi ra không khí, do đào mương, làm khô ruộng hoặc mùa khô hạ thấp mực nước, nó bị oxy hoá và sinh ra axit. Đất trở nên rất chua, nhôm và sắt bị hoà tan ra gây độc cho rễ cây.
Dấu hiệu dễ thấy là nước trong mương ruộng trong vắt bất thường, đáy mương có váng màu đỏ gạch hoặc vàng, trên mặt nước có lớp váng lấp lánh như dầu. Cắn thử một cọng cỏ ven mương hay nếm chút nước sẽ thấy chua chát. Đất khô lại có những đốm vàng rơm.
Người miền Tây đã có rất nhiều kinh nghiệm rửa phèn: dùng nước ngọt mùa mưa và mùa lũ để rửa, lên liếp cao để hạ phèn, không đào sâu đụng tới tầng phèn tiềm tàng. Cái khó của đất phèn là càng làm sai thì càng chua thêm.
Đất mặn, đất cát và đất xám bạc màu là những vùng nào?
Đất mặn nằm dọc ven biển, nhất là ở các vùng cửa sông và bãi bồi bị nước biển tràn vào. Mùa khô, muối từ dưới sâu theo nước bốc lên bề mặt, để lại những vệt trắng trên mặt ruộng. Cây lúa ở đây hay bị cháy lá, lùn cây.
Đất cát chiếm dải dài ven biển miền Trung. Đất này rời rạc, giữ nước và giữ phân kém, nắng lên nóng rát. Người dân ở đây giỏi trồng những cây chịu được như khoai lang, lạc, dưa, và dùng nhiều phân chuồng để cải tạo.
Đất xám bạc màu thường gặp trên các thềm phù sa cổ, như ở nhiều nơi thuộc Đông Nam Bộ, hoặc ở trung du phía Bắc. Đất có màu xám trắng, nhiều cát mịn, dinh dưỡng kém, nhưng thoát nước tốt và dễ làm đất. Với cách chăm hợp lý, đây vẫn là vùng trồng cây công nghiệp và cây ăn quả quan trọng.
Mỗi loại đất đều có nghề riêng của nó. Không có đất xấu, chỉ có cây trồng không hợp đất.
Tự kiểm tra đất ở vườn nhà bằng những cách đơn giản
Cách thứ nhất là thử bằng tay. Lấy một nắm đất ẩm, bóp chặt rồi thử vê thành sợi. Đất cát rời ra ngay, đất thịt vê được nhưng dễ gãy, đất sét vê thành sợi dài và dẻo. Đây là thứ quyết định đất thoát nước nhanh hay giữ nước lâu.
Cách thứ hai là đào một hố sâu khoảng một gang tay rồi nhìn vách. Lớp trên sẫm màu là phần nhiều mùn. Nếu thấy lớp xám xanh có đốm đỏ gỉ ở dưới, đất hay bị úng. Nếu thấy lớp đốm vàng rơm, bạn nên nghĩ tới phèn.
Cách thứ ba là đo độ chua. Ở các cửa hàng vật tư nông nghiệp có bán giấy thử hoặc máy đo đơn giản. Kết quả chỉ là ước lượng; muốn bón vôi, bón phân cho đúng thì nên mang mẫu tới trạm khuyến nông hoặc cơ sở phân tích đất để hỏi.
Lần tới về quê, bạn thử nắm một nắm đất ở ruộng nhà mình và đoán xem nó thuộc loại nào. Có khi chính người lớn tuổi trong nhà sẽ kể cho bạn nghe cả một câu chuyện về mảnh ruộng ấy.
Câu hỏi thường gặp
Đất phèn có trồng lúa được không?
Được, nhưng phải biết cách. Người trồng cần giữ nước ngọt đủ để rửa phèn, không để ruộng khô nứt sâu, chọn giống chịu phèn và hạn chế đào xới đụng tới tầng phèn bên dưới.
Đất phù sa có phải lúc nào cũng màu mỡ?
Phù sa mới bồi thường giàu dinh dưỡng, nhưng phù sa trong đê lâu năm không được bồi thì nghèo dần. Ngoài ra phù sa ở vùng trũng có thể bị úng hoặc nhiễm phèn, nên vẫn cần chăm sóc phù hợp.
Vì sao đất ven biển miền Trung nhiều cát?
Vì miền Trung có các sông ngắn, phù sa ít, trong khi sóng và gió biển liên tục đưa cát vào bờ và thổi thành cồn. Đồng bằng ở đây được hình thành có sự góp mặt lớn của biển.
Làm sao biết đất bị mặn?
Dấu hiệu thường thấy là những vệt trắng muối trên mặt đất mùa khô, cây cháy lá từ chóp và còi cọc. Muốn chắc nên đo độ mặn của nước tưới hoặc nhờ cán bộ nông nghiệp địa phương kiểm tra.
Đất đỏ và đất vàng cái nào tốt hơn?
Không thể chỉ nhìn màu mà nói tốt hay xấu. Màu đỏ thường cho thấy đất thoáng khí và giàu sắt, màu vàng có thể là đất ẩm hơn hoặc trên nền đá khác. Độ dày, độ tơi và lượng mùn mới quyết định sức đất.