Đồng bằng châu thổ hình thành khi sông mang phù sa từ núi xuống, tới cửa biển thì dòng chảy chậm lại và thả phù sa thành bãi bồi, lớp này chồng lên lớp kia qua hàng nghìn năm. Sông Hồng có đê vì người Việt đã đắp đê từ rất lâu để giữ làng khỏi lũ, và cái giá của an toàn ấy là phần đất trong đê không còn được phù sa bồi thêm như trước.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Hôm nay mình đứng trên mặt con đê, nhìn hai phía. Một bên là bãi ngô xanh ngoài sông, một bên là cánh đồng trong đê thấp hơn hẳn. Sự chênh lệch đó kể cả một câu chuyện dài giữa người với sông.
Phù sa từ đâu tới và vì sao lại dừng ở cửa sông?
Mỗi mùa mưa, nước chảy trên các sườn núi cuốn theo đất, cát, sỏi. Những hạt to nặng dừng sớm ở lòng suối, còn hạt mịn lơ lửng trong nước đi rất xa, làm nước sông có màu đục.
Một dòng nước chảy càng nhanh thì càng mang được nhiều phù sa. Khi sông ra tới đồng bằng thấp, độ dốc giảm, nước chậm lại, rồi tới cửa biển gặp nước biển cản và thuỷ triều đẩy ngược, phần lớn phù sa không đi tiếp được nữa và lắng xuống.
Phù sa lắng nhiều ở hai bên bờ khi nước tràn ra ngoài lòng sông, tạo thành những dải đất cao hơn sát bờ. Người xưa thường dựng làng trên chính những dải đất cao ấy vì ít ngập hơn.
Qua hàng nghìn năm, các bãi bồi nối lại với nhau, bờ biển lùi dần ra xa, và đồng bằng lớn dần lên. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đều được nặn ra theo cách đó.
Đê sông Hồng đã thay đổi đồng bằng như thế nào?
Sông Hồng có lũ mùa hè rất lớn và lên nhanh. Để giữ nhà cửa, ruộng vườn, người Việt đã đắp đê dọc hai bờ từ hàng nghìn năm trước, các triều đại sau tiếp tục bồi đắp, nối dài. Ngày nay hệ thống đê sông Hồng là một trong những công trình gắn với đời sống người Việt lâu đời nhất.
Đê giữ lũ trong lòng sông, nên phù sa cũng bị giữ lại trong đó. Phần đất ngoài đê, sát lòng sông, tiếp tục được bồi cao lên sau mỗi mùa lũ. Phần đất trong đê không được nhận phù sa mới, lại bị nén chặt dần theo thời gian.
Kết quả là ở nhiều đoạn, lòng sông và bãi ngoài đê cao hơn cánh đồng trong đê. Bạn đứng trên đê sẽ thấy rõ: nhìn ra sông thì gần, nhìn vào đồng thì phải nhìn xuống. Đó là lý do một chỗ vỡ đê lại nguy hiểm đến vậy.
Đồng bằng sông Hồng vì thế có nhiều ô trũng trong đê, nước mưa đọng lại khó thoát, phải dùng trạm bơm tiêu nước. Đây là kiểu địa hình do chính con người góp tay tạo ra.
Vì sao đồng bằng sông Cửu Long không có đê lớn như sông Hồng?
Lũ sông Mê Kông khi về tới Việt Nam lên chậm và xuống chậm, nước dâng từ từ trong nhiều tuần. Biển Hồ ở Campuchia lại như một cái hồ điều hoà khổng lồ, nhận bớt nước lúc lũ lên. Lũ ở đây vì thế hiền hơn lũ sông Hồng rất nhiều.
Người miền Tây từ lâu chọn cách sống chung với lũ thay vì chặn lũ. Mùa nước nổi, nước tràn đồng mang theo phù sa, tôm cá, rửa bớt phèn và mầm sâu bệnh. Nước rút để lại một lớp phù sa mới cho vụ sau.
Những năm gần đây nhiều nơi ở miền Tây đã làm đê bao để trồng thêm vụ lúa. Đổi lại, phần đồng trong đê bao mất phù sa và mất chỗ chứa nước, nước lũ dồn sang những nơi khác. Đây là chuyện còn được bàn nhiều, giữa lợi ích ngắn hạn của thêm một vụ và lợi ích dài của đất.
Hai đồng bằng lớn nhất nước vì thế đi hai con đường khác nhau, một bên giữ đất bằng đê, một bên nuôi đất bằng lũ.
Có thật đất liền tiến ra biển mỗi năm không?
Có, ở một số nơi. Vùng ven biển Kim Sơn của Ninh Bình và Tiền Hải của tỉnh Thái Bình cũ vốn là bãi bồi được khai hoang từ thời nhà Nguyễn, gắn với tên tuổi Nguyễn Công Trứ, người đứng ra chiêu dân lập ấp. Phù sa sông Hồng vẫn tiếp tục bồi bãi ra phía biển ở vùng này.
Ở cực nam, mũi Cà Mau cũng là nơi phù sa theo dòng chảy ven bờ tới bồi, bãi bồi phía tây được nhắc tới nhiều như một vùng đất đang lớn dần.
Nhưng không phải bờ biển nào cũng đang tiến ra. Nhiều đoạn bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long lại đang bị sạt lở, mất rừng ngập mặn. Lượng phù sa sông mang xuống được cho là đã giảm, trong khi sóng biển vẫn gặm vào bờ mỗi ngày.
Đồng bằng là một thứ sống: nó lớn lên khi phù sa đủ nhiều, và co lại khi phù sa thiếu. Một vùng đất do sông sinh ra thì cũng sẽ đổi khác khi con sông đổi khác.
Nhìn cánh đồng thế nào để biết mình đang ở đâu trên đồng bằng?
Lần tới đi qua đồng bằng sông Hồng, bạn để ý độ cao của làng so với ruộng. Làng thường nằm trên dải đất cao hơn, có luỹ tre bao quanh. Những cánh đồng trũng nhất thường cấy lúa một vụ hoặc thả cá, vì nước đọng lâu.
Ngoài đê, bãi sông thường trồng ngô, đậu, rau, chuối, những cây ngắn ngày chịu được việc mùa lũ có thể tràn qua. Người ta không xây nhà kiên cố ở đó vì biết sông còn đòi lại.
Ở miền Tây, bạn để ý dấu nước trên thân cây, trên cột nhà. Những vạch bẩn ngang thân cây cho biết mùa nước nổi năm trước đã lên tới đâu. Nhà dân vùng trũng thường làm sàn cao hoặc tôn nền.
Đồng bằng nhìn thì phẳng lì, nhưng chênh nhau chỉ một mét cũng quyết định trồng cây gì, ở ra sao. Thử đứng trên một bờ đê và đoán xem chỗ nào sẽ ngập trước khi mưa to, bạn sẽ thấy đồng bằng không phẳng chút nào.
Câu hỏi thường gặp
Đồng bằng châu thổ khác đồng bằng ven biển miền Trung thế nào?
Đồng bằng châu thổ do một con sông lớn bồi đắp ở cửa sông nên rộng và màu mỡ. Đồng bằng ven biển miền Trung hẹp, do nhiều sông ngắn và cả biển cùng bồi, đất thường pha cát nhiều hơn.
Đồng bằng nào lớn hơn, sông Hồng hay sông Cửu Long?
Đồng bằng sông Cửu Long rộng hơn đồng bằng sông Hồng nhiều lần. Tuy vậy đồng bằng sông Hồng có mật độ dân cư cao hơn, vì được khai thác từ rất sớm.
Vì sao vỡ đê lại nguy hiểm hơn lũ tràn bình thường?
Vì ở nhiều đoạn, mặt nước sông mùa lũ cao hơn hẳn đồng ruộng trong đê. Khi đê vỡ, nước đổ từ cao xuống với sức mạnh lớn và tràn nhanh vào vùng trũng, khó thoát ra.
Ô trũng là gì?
Ô trũng là vùng ruộng thấp hơn xung quanh, nước mưa và nước tràn dễ đọng lại, khó thoát. Ở đồng bằng sông Hồng, nhiều ô trũng nằm trong đê và cần trạm bơm để tiêu nước.
Phù sa có làm đất tốt mãi không?
Phù sa mới mang thêm khoáng chất nên làm đất tốt hơn, nhưng nếu không còn được bồi thì đất sẽ nghèo dần sau nhiều vụ canh tác. Khi đó người trồng phải bổ sung phân hữu cơ và luân canh để giữ sức đất.