Việt Nam hẹp ngang và dài dọc vì lãnh thổ trải theo mép phía đông của bán đảo Đông Dương, một bên là dãy Trường Sơn, một bên là biển, và đồi núi chiếm khoảng ba phần tư diện tích. Nhưng điều ít người để ý là phần lớn đồi núi ấy lại thấp, dưới một nghìn mét, nên đất nước vẫn có nhiều trung du, thung lũng và đồng bằng để sống.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Tập mở đầu này, mình muốn cùng bạn nhìn lại cái hình dáng quen thuộc đến mức ai cũng vẽ được bằng một nét bút, và hỏi một câu tưởng đơn giản: tại sao nó lại có hình này, và cái hình ấy đã nặn ra cách người Việt sống như thế nào.
Hình chữ S thật ra là một dải đất bám theo mép núi
Nếu bạn mở bản đồ địa hình, chứ không phải bản đồ hành chính, bạn sẽ thấy một điều thú vị. Dải đất Việt Nam gần như chạy song song với một sống lưng núi rất dài ở phía tây, đó là dãy Trường Sơn. Phía đông của sống lưng ấy là biển. Lãnh thổ nằm gọn trong khoảng giữa hai thứ đó.
Ở phía bắc, núi xoè rộng ra thành cả một vùng đồi núi lớn, nên phần đầu chữ S phình to. Xuống miền Trung, núi tiến sát ra biển, có chỗ chỉ còn một dải đồng bằng mỏng như sợi chỉ, nên phần lưng thắt lại. Vào tới Nam Bộ, núi lùi hẳn về phía tây, nhường chỗ cho đồng bằng rộng, thế là phần đuôi lại phình ra.
Nói cách khác, hình dáng đất nước không phải do ai vẽ ra cho đẹp, mà do khoảng cách giữa núi và biển thay đổi theo từng đoạn. Chỗ núi xa biển thì đất rộng, chỗ núi sát biển thì đất hẹp.
Thử lấy ngón tay dò theo dãy Trường Sơn rồi dò theo bờ biển, khoảng hở giữa hai ngón chính là bề ngang đất nước ở đoạn đó.
Ba phần tư là đồi núi, nhưng vì sao người ta vẫn nói núi thấp chiếm ưu thế?
Câu ba phần tư diện tích là đồi núi nghe rất dữ, dễ làm người ta tưởng tượng ra một đất nước toàn vách đá cheo leo. Thực tế không phải vậy. Phần lớn diện tích đồi núi ở Việt Nam là núi thấp và đồi, cao dưới một nghìn mét. Núi cao trên hai nghìn mét chỉ chiếm phần rất nhỏ, tập trung ở vùng Tây Bắc với dãy Hoàng Liên Sơn.
Điều này quan trọng hơn bạn nghĩ. Núi thấp nghĩa là khí hậu vẫn nóng ẩm nhiệt đới ở phần lớn vùng đồi, cây vẫn mọc tốt, người vẫn trồng được chè, cây ăn quả, rừng trồng. Trung du Phú Thọ, Thái Nguyên với những quả đồi tròn trồng chè là hình ảnh tiêu biểu của kiểu địa hình này.
Nếu đồi núi Việt Nam toàn là núi cao như ở một số nước vùng Himalaya, thì đời sống, giao thông và nông nghiệp sẽ khác hẳn.
Còn đồng bằng, dù chỉ chiếm khoảng một phần tư, lại là nơi tập trung đông dân nhất. Đó là lý do bản đồ dân cư Việt Nam trông như hai đầu đậm, một dải mảnh dọc biển và một vùng rộng thưa thớt ở phía tây.
Hướng núi tây bắc đông nam và vòng cung đã ảnh hưởng tới sông và gió thế nào?
Nhìn kỹ bản đồ miền Bắc, bạn sẽ thấy hai kiểu dáng núi. Ở phía tây sông Hồng, các dãy núi chạy theo hướng tây bắc xuống đông nam, như những đường kẻ song song. Ở phía đông sông Hồng, vùng Đông Bắc, các dãy núi lại uốn thành hình cánh cung, mở ra về phía bắc và phía đông.
Hướng núi quyết định đường đi của sông. Sông Đà, sông Hồng, sông Mã đều chảy theo hướng tây bắc đông nam vì chúng chảy trong các thung lũng kẹp giữa những dãy núi cùng hướng. Ở Đông Bắc, sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam thì uốn theo các cánh cung.
Hướng núi còn quyết định gió đi vào được tới đâu. Các cánh cung Đông Bắc mở ra như cái phễu, nên gió mùa đông bắc lạnh từ phương bắc tràn vào rất dễ, làm vùng này có mùa đông lạnh nhất nước so với cùng độ cao.
Lần sau ngồi xe qua các cung đường miền núi phía Bắc, bạn thử để ý con đường thường chạy theo thung lũng sông, men theo hướng núi. Đường đi của con người, phần lớn, cũng chỉ là đi theo con đường mà nước đã chọn trước.
Vì sao bờ biển dài lại quan trọng với một đất nước hẹp?
Một đất nước hẹp ngang thì gần như tỉnh nào ở miền Trung cũng có biển hoặc nằm rất gần biển. Bờ biển Việt Nam dài hơn ba nghìn cây số, trải từ Móng Cái tới Hà Tiên, nên ảnh hưởng của biển len vào sâu trong đất liền hơn nhiều nước có diện tích tương đương.
Biển làm khí hậu ẩm hơn, mưa nhiều hơn so với các vùng cùng vĩ độ nằm sâu trong lục địa.
Nhưng biển cũng mang tới bão. Một dải đất hẹp, phía sau là núi dốc, phía trước là biển, thì khi bão đổ bộ, mưa lớn dồn từ núi xuống rất nhanh, đồng bằng ven biển hẹp không đủ chỗ chứa nước. Đó là một trong những lý do miền Trung chịu thiên tai nặng.
Cái hẹp ngang còn tạo ra một kiểu đời sống đặc biệt: trong một ngày, người miền Trung có thể đi từ làng chài ra đồng lúa rồi lên rừng. Ba kiểu kinh tế biển, đồng bằng và núi nằm kề nhau, đan vào nhau trong từng gia đình.
Hình dáng này đặt ra những bài toán gì cho đời sống hôm nay?
Cái giá lớn nhất của hình chữ S là đường dài. Muốn nối Bắc với Nam, mọi tuyến đường bộ, đường sắt đều phải chạy một quãng rất dài qua dải miền Trung hẹp, qua nhiều con đèo nơi núi đâm ra biển. Đèo Hải Vân, đèo Cả, đèo Ngang đều là những điểm thắt mà xưa nay giao thông phải vượt qua.
Đất nước dài cũng nghĩa là trải qua nhiều vĩ độ, nên khí hậu Bắc và Nam khác nhau rõ. Cùng một tháng mười hai, Hà Nội có thể rét mười mấy độ trong khi Cà Mau vẫn nắng nóng.
Nhưng chính sự đa dạng ấy lại là tài sản. Trên một lãnh thổ không quá rộng, mình có cả rừng núi ôn hoà, cao nguyên đất đỏ, châu thổ phù sa, đầm phá, cồn cát và hàng nghìn hòn đảo.
Lần tới bạn nhìn tấm bản đồ quen thuộc, thử tự hỏi ở đoạn nào núi gần biển nhất, và mình đoán xem người dân ở đó đã sống thích nghi ra sao. Câu trả lời thường nằm ngay trong món ăn, căn nhà và nghề của họ.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam có diện tích đồi núi bao nhiêu?
Đồi núi chiếm khoảng ba phần tư diện tích phần đất liền Việt Nam. Trong đó phần lớn là đồi và núi thấp dưới một nghìn mét, núi cao trên hai nghìn mét chỉ chiếm một phần nhỏ.
Nơi hẹp nhất của Việt Nam ở đâu?
Đoạn hẹp nhất nằm ở vùng Quảng Bình, nơi khoảng cách từ biên giới phía tây ra tới biển chỉ khoảng năm mươi cây số. Đây là chỗ dãy Trường Sơn tiến sát biển nhất.
Đỉnh núi cao nhất Việt Nam là đỉnh nào?
Đó là đỉnh Phan Xi Păng thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, cao hơn ba nghìn một trăm mét. Đỉnh này thường được gọi là nóc nhà Đông Dương.
Vì sao vùng Đông Bắc lạnh hơn Tây Bắc vào mùa đông?
Vì các dãy núi Đông Bắc uốn hình cánh cung mở về phía bắc, tạo đường cho gió mùa đông bắc lạnh tràn vào. Tây Bắc được dãy Hoàng Liên Sơn che chắn nên ở vùng thấp mùa đông thường đỡ lạnh hơn, dù trên núi cao vẫn rất rét.
Địa hình Việt Nam được hình thành từ khi nào?
Mặt đất Việt Nam là kết quả của hàng trăm triệu năm vận động địa chất, với nhiều lần nâng lên, sụt xuống và bào mòn. Dáng gần với ngày nay được định hình trong giai đoạn địa chất gần đây.