Nước ngầm là nước mưa và nước sông thấm xuống đất, tích lại trong những khe hở nhỏ giữa các hạt cát, sỏi và trong khe nứt của đá. Giếng khoan lấy nước từ chính những tầng chứa nước ấy, có tầng nông nằm ngay dưới mặt đất, có tầng sâu được kẹp giữa các lớp sét kín ở dưới hàng chục, hàng trăm mét.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Nhiều người hình dung dưới lòng đất có những con sông ngầm, hồ ngầm như trong phim. Thực tế phần lớn nước ngầm không nằm trong hang rỗng mà thấm đẫm trong đất đá như nước trong miếng bọt biển. Hôm nay mình cùng đào xuống xem.
Nước thấm xuống đất rồi đi đâu?
Khi mưa rơi xuống, một phần nước chảy tràn trên mặt ra suối, ra sông. Một phần bốc hơi trở lại không khí. Phần còn lại thấm xuống đất, qua lớp đất mặt, len vào khoảng trống giữa các hạt cát, sỏi.
Nước cứ thấm xuống cho tới khi gặp một lớp không cho nước đi qua, như lớp sét chặt hoặc đá liền khối. Tại đó nước dừng lại và lấp đầy các khoảng trống phía trên. Phần đất đá đã bão hoà nước ấy gọi là tầng chứa nước.
Mặt trên của vùng bão hoà gọi là mực nước ngầm. Bạn đào một cái giếng xuống tới mực này thì nước sẽ rỉ vào đáy giếng. Mùa mưa mực nước dâng cao, mùa khô hạ thấp, nên giếng đào có thể cạn vào cuối mùa khô.
Nước ngầm không đứng yên mà chảy rất chậm, từ nơi cao tới nơi thấp, có khi đi nhiều năm mới tới một con sông hay một vùng trũng. Nhiều dòng suối mùa khô vẫn có nước chính là nhờ nước ngầm rỉ ra.
Giếng đào và giếng khoan khác nhau thế nào?
Giếng đào, hay giếng khơi, thường chỉ sâu vài mét tới vài chục mét, lấy nước ở tầng chứa nước nông nhất. Tầng này gần mặt đất nên được bổ sung nhanh bởi mưa, nhưng cũng dễ bị nhiễm bẩn từ nhà vệ sinh, chuồng trại, phân bón.
Giếng khoan dùng ống khoan sâu hơn, có thể xuyên qua lớp sét để lấy nước ở tầng sâu. Tầng sâu thường được lớp sét phía trên che chắn nên ít bị nhiễm bẩn từ mặt đất hơn, và lượng nước ổn định hơn.
Ở một số vùng, tầng chứa nước sâu bị ép giữa hai lớp sét, nước chịu áp lực. Khi khoan xuyên qua lớp sét phía trên, nước có thể tự dâng lên trong ống, thậm chí tự phun ra. Người ta gọi đó là giếng tự phun.
Nhưng sâu không có nghĩa là sạch tuyệt đối. Nước ngầm ở tầng nào cũng có thể chứa những chất hoà tan từ chính đất đá xung quanh.
Vì sao nước giếng cần được xét nghiệm?
Nước ngầm hoà tan khoáng chất từ đất đá nó đi qua. Có những chất vô hại, có những chất gây phiền như sắt làm nước có mùi tanh, để lâu ngả vàng, ố quần áo. Có những chất đáng lo hơn.
Ở một số vùng thuộc đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các khảo sát đã phát hiện nước ngầm có hàm lượng asen, hay còn gọi là thạch tín, vượt mức an toàn. Asen không màu, không mùi, không vị, nên không thể nhận ra bằng mắt hay bằng miệng.
Nước giếng nông còn có thể nhiễm vi khuẩn và các chất từ chất thải, phân bón nếu giếng gần nhà vệ sinh hay chuồng trại.
Vì vậy cách chắc chắn duy nhất là mang mẫu nước đi xét nghiệm tại cơ sở có chức năng, như trung tâm y tế dự phòng hoặc các phòng thí nghiệm môi trường. Kết quả xét nghiệm sẽ cho biết nên lọc bằng cách nào hoặc có nên dùng để uống không.
Khai thác quá mức: khi đất lún xuống
Nước ngầm được bổ sung bởi mưa, nhưng rất chậm, nhất là với các tầng sâu. Nếu bơm lên nhanh hơn tốc độ được bổ sung, mực nước ngầm sẽ hạ dần, giếng phải khoan sâu hơn mới có nước.
Khi nước bị rút khỏi các lớp đất mềm như sét, bùn, những lớp này mất đi phần nước nâng đỡ và bị nén lại. Mặt đất phía trên lún xuống, giống như một miếng bọt biển bị vắt.
Ở các đô thị lớn và một số vùng ven biển của đồng bằng sông Cửu Long, sụt lún đất đã được ghi nhận, và khai thác nước ngầm được coi là một trong những nguyên nhân chính bên cạnh sức nặng của công trình và quá trình nén tự nhiên của đất trẻ.
Đất đã lún vì mất nước thì gần như không phồng lên lại được khi nước trở về. Đó là lý do nhiều nơi đã hạn chế khoan giếng mới và khuyến khích dùng nước máy.
Mỗi người có thể làm gì để giữ nước ngầm?
Nếu nhà bạn dùng giếng, hãy đặt giếng xa nhà vệ sinh và chuồng trại, có nắp đậy, có sân giếng để nước bẩn không chảy ngược xuống. Giếng khoan bỏ không dùng nữa nên được lấp đúng cách, vì một ống giếng bỏ hoang có thể là đường cho nước bẩn đi thẳng xuống tầng sâu.
Không đổ dầu nhớt, hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật thừa xuống đất hay xuống hố. Thứ gì thấm xuống đất hôm nay có thể nằm trong nước giếng của hàng xóm vài năm sau.
Giữ những vùng đất có thể thấm nước như vườn, ao, ruộng, mảng cỏ. Một khu phố toàn bê tông thì mưa chỉ chảy tràn đi, nước ngầm phía dưới không được bổ sung.
Lần tới múc một gầu nước giếng, bạn thử nghĩ những giọt nước ấy có thể đã rơi xuống thành mưa từ nhiều năm trước, đi một hành trình rất chậm dưới chân bạn mới tới được đây.
Câu hỏi thường gặp
Nước ngầm có phải là sông ngầm dưới đất không?
Phần lớn nước ngầm không chảy thành sông mà thấm trong khe hở của cát, sỏi và đá. Chỉ ở vùng núi đá vôi mới có những dòng sông ngầm chảy trong hang thật sự.
Làm sao biết nước giếng nhà mình có asen?
Không thể nhận biết bằng màu, mùi hay vị. Cách duy nhất là gửi mẫu nước tới cơ sở xét nghiệm có chức năng như trung tâm y tế dự phòng hoặc phòng thí nghiệm môi trường.
Vì sao nước giếng có mùi tanh và để lâu bị vàng?
Thường là do nước có nhiều sắt hoà tan. Khi gặp không khí, sắt bị oxy hoá thành cặn màu vàng nâu. Có thể xử lý bằng các bể lọc phù hợp, nhưng vẫn nên xét nghiệm để biết có chất khác hay không.
Giếng khoan càng sâu nước càng sạch?
Không hẳn. Tầng sâu thường ít bị nhiễm bẩn từ mặt đất hơn, nhưng có thể chứa khoáng chất hoặc kim loại hoà tan từ đất đá, hoặc bị mặn ở vùng ven biển. Chất lượng phụ thuộc vào từng tầng và từng vùng.
Sụt lún do khai thác nước ngầm có hồi phục được không?
Phần lớn không. Khi các lớp sét, bùn đã bị nén lại do mất nước, chúng hầu như không giãn trở lại dù nước được bổ sung sau đó. Vì vậy phòng ngừa quan trọng hơn khắc phục.