Cù lao là những hòn đảo phù sa mọc giữa sông khi dòng nước chậm lại và thả bùn cát xuống. Giồng là những dải đất cát cao hơn ruộng xung quanh, dấu vết của những bờ biển cổ khi đồng bằng còn đang lấn dần ra biển. Còn rạch là đường nước tự nhiên, kênh phần lớn do người đào, và mỗi thứ kể một chương khác nhau của đồng bằng sông Cửu Long.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Về miền Tây, ai cũng ngồi xuồng đi kênh rạch, lên cù lao ăn trái cây. Hôm nay mình không giới thiệu vườn nào, chỉ giúp bạn hiểu những gì mình đang thấy dưới chân, để chuyến đi có thêm một lớp ý nghĩa.
Cù lao: những hòn đảo do sông đắp
Sông Tiền và sông Hậu rất rộng và mang nhiều phù sa. Ở những đoạn sông phình rộng, dòng chảy chậm lại, phù sa bắt đầu lắng xuống thành bãi ngầm giữa dòng. Lâu dần bãi nổi lên khỏi mặt nước, cây cỏ mọc, rồi thành đảo.
Người miền Tây gọi những đảo ấy là cù lao hay cồn. Đất cù lao là phù sa mới, màu mỡ, được nước sông bao quanh nên mát, rất hợp làm vườn cây ăn trái. Nhiều cù lao lớn có cả nghìn hộ dân sinh sống.
Cù lao không đứng yên. Đầu cù lao hướng về thượng nguồn thường bị dòng nước gặm, đuôi cù lao phía hạ lưu lại được bồi thêm. Qua nhiều năm, cả cù lao có thể dịch dần về phía hạ lưu.
Có những cồn nhỏ mới nổi lên trong vài chục năm, có những cồn bị lở mất. Người già sống trên cù lao thường kể đất nhà mình xưa kia rộng tới đâu.
Giồng cát: những bờ biển cổ nằm giữa đồng
Đi ở vùng Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, bạn sẽ gặp những dải đất cao hơn hẳn ruộng xung quanh, đất pha cát, trồng hoa màu, dừa, có nhà cửa, chùa chiền tập trung trên đó. Người dân gọi là giồng.
Theo các nhà địa chất, nhiều giồng cát là dấu vết của những bờ biển cổ. Khi đồng bằng lấn dần ra biển, sóng biển đắp cát thành những dải cồn chạy song song với bờ, giống những cồn cát ven biển hôm nay. Đồng bằng tiếp tục lớn ra phía trước, những dải cồn cũ bị bỏ lại phía sau, nằm giữa ruộng lúa.
Vì vậy nếu nhìn trên bản đồ, nhiều giồng chạy thành những vòng cung song song với bờ biển hiện tại, như những vân gỗ ghi lại các bước tiến của đồng bằng.
Giồng cao ráo, ít ngập, nước ngầm ngọt hơn, nên từ xưa là nơi người ta chọn dựng làng. Người Khmer ở vùng này thường lập phum sóc và chùa trên giồng.
Rạch và kênh: con đường tự nhiên và con đường đào
Rạch là những dòng nước tự nhiên, uốn lượn ngoằn ngoèo, chảy từ sông lớn vào sâu trong đồng hoặc nối các vùng trũng với sông. Thuỷ triều lên xuống trong rạch mỗi ngày.
Kênh thì phần lớn do con người đào, thường thẳng tắp, nối những vùng xa nhau để đi lại, dẫn nước, tiêu nước, rửa phèn. Nhìn bản đồ đồng bằng sông Cửu Long, bạn sẽ thấy những đường kênh thẳng như kẻ chỉ cắt qua mạng lưới rạch uốn lượn.
Một trong những con kênh đào nổi tiếng là kênh Vĩnh Tế, đào vào đầu thế kỷ mười chín thời nhà Nguyễn, gắn với tên Thoại Ngọc Hầu, chạy dọc vùng biên giới phía tây nối Châu Đốc với Hà Tiên. Nhiều kênh lớn khác được đào trong thế kỷ mười chín và hai mươi để khai hoang và vận chuyển lúa gạo.
Hệ thống kênh rạch dày đặc ấy biến đồng bằng thành một mạng giao thông thuỷ khổng lồ, nơi chiếc xuồng từng quan trọng như chiếc xe máy hôm nay.
Đọc tên đất miền Tây để hiểu địa hình
Nhiều địa danh miền Tây là một cuốn từ điển địa lý. Vàm là chỗ một con rạch đổ ra sông, như Vàm Cỏ, Vàm Nao. Ngã ba, ngã năm, ngã bảy là chỗ nhiều dòng nước gặp nhau, như Ngã Bảy.
Cồn, cù lao là đảo giữa sông. Giồng là dải đất cao. Láng, bàu, trấp thường chỉ những vùng trũng, đọng nước. Xẻo là một con rạch nhỏ, cụt. Bưng là vùng trũng ngập nước có cỏ lác mọc.
Nghe tên một nơi chốn, bạn đã đoán được nó cao hay thấp, gần sông hay sâu trong đồng. Đó là cách những người khai hoang xưa đặt tên cho đất theo đúng đặc điểm họ thấy.
Một số tên gọi còn có gốc từ tiếng Khmer, phản ánh lịch sử nhiều cộng đồng cùng sinh sống trên đồng bằng. Nguồn gốc của từng tên cụ thể là chuyện cần các nhà nghiên cứu địa danh xác nhận.
Đi miền Tây với con mắt mới
Khi ngồi xuồng trên rạch, hãy để ý con nước đang lên hay xuống, chảy vào hay chảy ra. Đó là nhịp thuỷ triều mà mình đã kể, đang đẩy nước sông vào sâu trong đồng.
Khi lên một cù lao, thử đi ra đầu cù lao phía thượng nguồn và đuôi cù lao phía hạ lưu. Bạn có thể thấy bờ lở ở đầu và bãi bồi ở đuôi.
Khi đi trên một con đường chạy dọc giồng, hãy nhìn xuống ruộng hai bên thấp hơn, và tưởng tượng xưa kia sóng biển từng vỗ vào chính chỗ bạn đang đứng.
Lần tới về miền Tây, bạn thử hỏi người chở đò tên con rạch mình đang đi. Rất có thể cái tên ấy sẽ kể cho bạn biết nơi này trông như thế nào từ hàng trăm năm trước.
Câu hỏi thường gặp
Cù lao và cồn khác nhau không?
Ở miền Tây, hai cách gọi thường dùng gần như nhau để chỉ đảo giữa sông. Cồn đôi khi chỉ những bãi bồi nhỏ hoặc mới nổi, còn cù lao chỉ những đảo lớn có dân cư lâu đời.
Giồng cát hình thành như thế nào?
Nhiều giồng cát là những dải cồn cát ven biển cổ, được sóng biển đắp khi bờ biển còn nằm ở đó. Khi đồng bằng lấn dần ra biển, các dải cồn này bị bỏ lại giữa ruộng.
Kênh khác rạch như thế nào?
Rạch là dòng nước tự nhiên, thường uốn lượn. Kênh phần lớn do con người đào, thường thẳng, dùng để giao thông, dẫn nước, tiêu nước và rửa phèn.
Vàm là gì?
Vàm là cách gọi ở miền Nam để chỉ chỗ một con rạch hoặc sông nhỏ đổ ra một dòng sông lớn hơn, tức là cửa rạch. Nhiều địa danh mang chữ vàm như Vàm Cỏ, Vàm Nao.
Kênh Vĩnh Tế được đào khi nào?
Kênh Vĩnh Tế được đào vào đầu thế kỷ mười chín dưới thời nhà Nguyễn, gắn với tên tuổi Thoại Ngọc Hầu. Kênh nối Châu Đốc với Hà Tiên, chạy dọc vùng biên giới phía tây nam.