Người Việt sống dày ở đồng bằng vì ở đó có đất phẳng, phù sa và nước để làm lúa nước, đi lại thuận tiện và đã được khai phá liên tục từ hàng nghìn năm. Miền núi dốc, đất mỏng, đường sá khó, nên dân cư thưa hơn nhiều, dù đồi núi chiếm phần lớn diện tích đất nước.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Nếu nhìn bản đồ mật độ dân số Việt Nam, bạn sẽ thấy hai vùng đậm như hai giỏ lúa ở hai đầu, một dải mảnh dọc biển và cả một vùng rộng nhạt màu ở phía tây. Hôm nay mình hỏi vì sao con người lại chọn ở như vậy.
Lúa nước kéo người về đồng bằng
Cây lúa nước cần ba thứ: đất phẳng để giữ nước trên mặt ruộng, nguồn nước dồi dào để tưới và tiêu, và đất màu mỡ. Đồng bằng châu thổ có đủ cả ba.
Một mẫu ruộng lúa nước nuôi được nhiều người hơn hẳn một mẫu nương rẫy trên đồi. Năng suất cao cho phép làng xóm mọc lên dày đặc, người đông thì lại có sức đắp đê, đào mương, mở thêm ruộng.
Lúa nước cũng cần nhiều nhân công vào thời vụ cấy, gặt. Gia đình đông người, làng xóm gần nhau để đổi công cho nhau trở thành một nếp sống.
Cứ như vậy qua nhiều thế kỷ, đồng bằng sông Hồng trở thành một trong những vùng nông thôn có mật độ dân cư cao nhất thế giới.
Sông ngòi là đường đi, biển là đường làm ăn
Trước khi có đường bộ tốt, sông là con đường chính. Hàng hoá, người đi lại, tin tức đều theo sông. Làng xóm, chợ búa, thị trấn mọc lên dọc theo các dòng sông và chỗ hợp lưu.
Dải đồng bằng ven biển miền Trung hẹp nhưng cũng đông dân, vì ở đó người ta có thể vừa làm ruộng vừa đi biển. Đường thiên lý Bắc Nam ngày xưa cũng chạy dọc dải đất này, nối các làng, các thành.
Đồng bằng sông Cửu Long được khai phá muộn hơn, chủ yếu trong vài trăm năm gần đây. Người đi khai hoang theo sông rạch vào sâu, dựng nhà dọc kênh, nên dân cư ở đây trải dài theo đường nước chứ không gom thành cụm như ở miền Bắc.
Ngày nay đường bộ, đường cao tốc đã thay sông làm trục chính, và dân cư lại có xu hướng dồn về hai bên đường lớn.
Vì sao miền núi thưa dân?
Đất dốc khó làm ruộng nước, phải làm ruộng bậc thang rất công phu hoặc làm nương rẫy. Đất đồi bị rửa trôi, mỏng và nghèo hơn phù sa. Một gia đình cần nhiều đất hơn để sống, nên làng bản thưa hơn.
Đi lại khó khăn làm việc buôn bán, học hành, chữa bệnh đều bất tiện. Ngày xưa, núi rừng còn gắn với những nỗi sợ như sốt rét, thú dữ, mà người đồng bằng gói trong cụm từ rừng thiêng nước độc.
Thời tiết miền núi cũng khắc nghiệt hơn: rét đậm ở vùng cao phía Bắc, sương muối, lũ quét, sạt lở.
Nhưng thưa không có nghĩa là trống. Miền núi Việt Nam là nơi sinh sống lâu đời của nhiều dân tộc với cách làm ăn thích nghi rất tài tình với địa hình, mà mình sẽ kể trong một tập riêng.
Phân bố dân cư đã thay đổi thế nào?
Sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, nhiều đợt di dân có tổ chức và tự do đã đưa người từ đồng bằng lên Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và các vùng núi phía Bắc. Tây Nguyên từ một vùng thưa dân đã trở thành nơi có nhiều cộng đồng từ khắp các tỉnh tới sinh sống.
Từ những năm cuối thế kỷ hai mươi, xu hướng lớn nhất là người dồn về đô thị và các khu công nghiệp. Vùng Đông Nam Bộ quanh Thành phố Hồ Chí Minh, vùng quanh Hà Nội thu hút rất nhiều người từ nông thôn.
Vì vậy bản đồ dân cư hôm nay có thêm những chấm đậm mới quanh các thành phố lớn và khu công nghiệp, bên cạnh hai châu thổ cũ.
Dân số Việt Nam hiện vào khoảng một trăm triệu người. Cách họ phân bố trên mặt đất là kết quả của cả địa lý tự nhiên lẫn những lựa chọn của con người qua nhiều thế hệ.
Mật độ dân cư cao đặt ra những bài toán gì?
Ở đồng bằng sông Hồng, đất nông nghiệp bình quân trên đầu người rất nhỏ. Mỗi gia đình chỉ có vài sào ruộng, nên nhiều người phải làm thêm nghề phụ hoặc đi làm xa. Làng nghề thủ công ra đời một phần vì lý do này.
Đất ở chật, nhà cửa san sát, làng nọ nối làng kia gần như không còn khoảng trống. Việc mở đường, làm khu công nghiệp thường phải lấy vào đất ruộng.
Ở miền núi thì bài toán ngược lại: dân thưa nên đưa điện, đường, trường, trạm y tế tới từng bản rất tốn kém, khoảng cách tới dịch vụ xa.
Lần tới đi xe qua đồng bằng, bạn thử đếm xem bao lâu thì gặp một làng mới. Rồi lên vùng núi, đếm lại. Khoảng cách giữa các nóc nhà chính là bản đồ mật độ dân số mà bạn tự vẽ được.
Câu hỏi thường gặp
Vùng nào đông dân nhất Việt Nam?
Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ là những vùng có mật độ dân cư cao nhất, trong đó các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đông nhất. Đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng đông dân.
Vì sao Tây Nguyên trước đây thưa dân?
Tây Nguyên là vùng cao nguyên rộng, xa biển, giao thông khó khăn và có mùa khô dài. Trước kia chủ yếu là nơi sinh sống của các dân tộc bản địa với mật độ thấp, sau đó dân số tăng nhanh nhờ các đợt di dân.
Dân số Việt Nam khoảng bao nhiêu?
Dân số Việt Nam hiện vào khoảng một trăm triệu người. Con số chính xác được cập nhật qua các cuộc tổng điều tra và số liệu thống kê hằng năm.
Vì sao đồng bằng sông Cửu Long dân cư trải dài theo kênh?
Vì vùng này được khai phá chủ yếu bằng đường sông rạch, người dân dựng nhà dọc kênh để tiện đi lại, lấy nước và làm vườn. Kiểu phân bố dọc theo đường nước vẫn còn rõ đến nay.
Mật độ dân số là gì?
Mật độ dân số là số người sống trên một đơn vị diện tích, thường tính bằng số người trên một cây số vuông. Chỉ số này giúp so sánh độ đông đúc giữa các vùng.