Nước mặn lấn sâu vào đồng bằng sông Cửu Long mỗi mùa khô vì nước ngọt từ thượng nguồn về ít, không đủ sức đẩy lùi nước biển mà thuỷ triều mang vào các cửa sông. Những năm nước thượng nguồn xuống thấp, lòng sông bị hạ do khai thác cát và đất bị sụt lún, mặn càng vào sâu và vào sớm hơn.
Chào bạn, đây là Nhà Địa Lý. Ở miền Tây có những mùa khô mà người dân phải mua từng can nước ngọt, nhìn ruộng lúa cháy lá dù sông ngay trước mặt đầy nước. Nước ấy là nước mặn. Hôm nay mình kể vì sao biển lại vào được sâu như vậy.
Cuộc giằng co giữa nước sông và nước biển
Ở cửa sông, nước ngọt từ trên chảy xuống, nước mặn từ biển theo thuỷ triều đẩy vào. Nước mặn nặng hơn nước ngọt, nên nó có xu hướng luồn dưới đáy sông như một cái nêm, len vào phía trong.
Mùa lũ, lượng nước ngọt rất lớn, đẩy nêm mặn ra xa ngoài cửa biển. Mùa khô, lượng nước ngọt giảm mạnh, nêm mặn theo mỗi con triều tiến dần vào sâu, theo sông Tiền, sông Hậu, rồi len vào mạng lưới kênh rạch chằng chịt.
Mỗi ngày nước mặn lên xuống theo thuỷ triều. Những ngày triều cường, mặn vào sâu nhất. Đỉnh mặn thường rơi vào khoảng tháng hai tới tháng tư, khi nước thượng nguồn về ít nhất.
Vì đồng bằng rất thấp và phẳng, lại có nhiều cửa sông mở ra biển, nước mặn có thể đi vào rất xa trong đất liền.
Vì sao mặn ngày càng đáng lo hơn?
Giới chuyên môn đã chỉ ra nhiều nguyên nhân cùng tác động, và mức độ của từng nguyên nhân vẫn đang được nghiên cứu. Thứ nhất là lượng nước về từ thượng nguồn mùa khô. Những năm mưa ít trên lưu vực, cộng với việc các hồ chứa thượng nguồn giữ và điều tiết nước, lượng nước ngọt về đồng bằng có thể thấp bất thường.
Thứ hai là lòng sông bị hạ thấp. Khai thác cát trên sông và lượng phù sa về ít đi làm đáy sông sâu hơn ở nhiều đoạn. Lòng sông sâu hơn thì nêm mặn dưới đáy dễ len vào xa hơn.
Thứ ba là sụt lún đất và mực nước biển. Khi mặt đất đồng bằng lún xuống và mực nước biển có xu hướng dâng lên, khoảng chênh giữa đất và biển nhỏ lại, biển càng dễ lấn vào.
Thứ tư là cách dùng nước trong đồng bằng. Lấy quá nhiều nước ngọt từ sông cho tưới tiêu cùng lúc vào mùa khô cũng làm dòng chảy yếu đi ở hạ du.
Mặn gây hại thế nào cho ruộng vườn và đời sống?
Cây lúa chịu mặn kém, nhất là giai đoạn mạ và trổ bông. Chỉ cần nước tưới có độ mặn vài phần nghìn đã có thể làm lúa vàng lá, cháy chóp, lép hạt. Cây ăn trái như sầu riêng, bưởi, chôm chôm còn nhạy cảm hơn, có vườn bị mặn một mùa là cây suy kiệt nhiều năm.
Nước sinh hoạt là chuyện khổ nhất. Nhiều gia đình vùng ven biển phải trữ nước mưa trong lu, bồn, mua nước ngọt chở bằng ghe, hoặc dùng máy lọc. Giếng khoan cũng có thể nhiễm mặn ở một số tầng.
Người ta đo độ mặn bằng đơn vị phần nghìn, tức là bao nhiêu gam muối trong một lít nước. Nước biển ngoài khơi mặn khoảng ba mươi lăm phần nghìn. Nước dùng tưới lúa cần thấp hơn rất nhiều.
Vì thế mùa khô ở miền Tây, nhiều nhà nông có máy đo độ mặn cầm tay, đo nước kênh trước khi mở cống đưa nước vào ruộng.
Người miền Tây thích nghi bằng cách nào?
Cách đầu tiên là theo dõi bản tin dự báo mặn của các cơ quan chuyên môn và địa phương, để biết khi nào mặn tới, khi nào nên lấy nước, khi nào nên đóng cống.
Cách thứ hai là trữ nước ngọt. Từ lu, bồn chứa trong nhà tới ao, mương, kênh trữ nước trong vườn, lấy nước vào lúc độ mặn còn thấp để dùng dần. Nhiều vùng đã làm hệ thống cống, đập ngăn mặn để giữ ngọt cho những vùng phía trong.
Cách thứ ba là chuyển đổi cách làm ăn theo nước. Ở những vùng ven biển nước lợ, mô hình mùa mưa trồng lúa, mùa khô nuôi tôm được nhiều nơi áp dụng, thay vì cố giữ ngọt quanh năm. Đổi giống lúa chịu mặn hơn, điều chỉnh lịch xuống giống để thu hoạch trước đỉnh mặn.
Mỗi cách đều có cái giá của nó. Ngăn mặn giữ ngọt cho vùng này có thể làm thay đổi dòng chảy ở vùng khác. Đó là lý do việc quản lý nước ở đồng bằng cần nhìn cả vùng, cả lưu vực.
Mặn không chỉ là tai hoạ, mà là một phần của đồng bằng
Cần nhớ rằng nước lợ và nước mặn ven biển vốn là một phần tự nhiên của đồng bằng sông Cửu Long. Rừng ngập mặn, nghề nuôi tôm, cua, nghề làm muối đều sống nhờ nước mặn.
Vấn đề không phải là có mặn, mà là mặn đến những nơi xưa nay vốn ngọt, đến sớm hơn, ở lâu hơn, làm người dân không kịp trở tay.
Thay vì coi mọi giọt mặn là kẻ thù, nhiều nhà nghiên cứu gợi ý chia đồng bằng thành những vùng ngọt, lợ, mặn và làm ăn theo đúng nước của từng vùng.
Lần tới về miền Tây vào tháng ba, bạn thử hỏi một người nông dân năm nay mặn tới đâu rồi. Họ thường nhớ chính xác tới từng con kênh, từng cây cầu, như một tấm bản đồ sống.
Câu hỏi thường gặp
Xâm nhập mặn là gì?
Xâm nhập mặn là hiện tượng nước biển mặn lấn sâu vào sông, kênh rạch và tầng nước ngầm ở vùng ven biển, thường mạnh nhất vào mùa khô khi nước ngọt từ thượng nguồn về ít.
Mặn ở miền Tây thường cao nhất vào tháng nào?
Đỉnh mặn thường xuất hiện trong khoảng tháng hai tới tháng tư, trùng với giai đoạn nước thượng nguồn thấp nhất trong mùa khô. Thời điểm cụ thể thay đổi theo từng năm.
Độ mặn bao nhiêu thì không tưới lúa được?
Lúa bắt đầu bị ảnh hưởng khi nước tưới có độ mặn vài phần nghìn, mức chịu đựng tuỳ giống và giai đoạn sinh trưởng. Nông dân nên theo khuyến cáo của cơ quan nông nghiệp địa phương cho từng vụ.
Làm sao trữ nước ngọt cho gia đình mùa khô?
Có thể trữ nước mưa trong lu, bồn sạch có nắp đậy, hoặc lấy nước sông vào lúc độ mặn còn thấp rồi lắng lọc. Nước dùng để uống nên được xử lý và kiểm tra chất lượng.
Khai thác cát có làm mặn vào sâu hơn không?
Nhiều nghiên cứu cho rằng khai thác cát quá mức làm lòng sông sâu hơn, tạo điều kiện cho nước mặn ở tầng đáy lấn vào xa hơn. Đây là một trong nhiều nguyên nhân cùng tác động.